Loài chuột: ba loài trong nhà, nhận ra bằng phân, đuôi và chỗ ở

Trong nhà và kho ở TP.HCM có ba loài chuột: chuột cống nặng 340–450 g sống dưới cống và hố ga, chuột mái 15–20 cm đuôi dài hơn thân sống trên trần, chuột nhắt 6–10 cm nặng 12–30 g sống ngay trong tủ. Nhìn cỡ phân và chỗ gặp là biết loài.

Cập nhật ·

Chuột

Nghe tiếng chạy trên trần lúc 23 giờ và thấy phân trong ngăn kéo bếp là hai con chuột khác nhau, ở hai chỗ khác nhau, và bẫy đặt dưới sàn chỉ bắt được một trong hai. Trang này giúp anh chị gọi đúng loài trước khi mua bẫy hay bả.

Kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu đi khảo sát chuột không bắt đầu bằng việc tìm con chuột, mà tìm phân, vết gặm và vệt mỡ đen ở chân tường. Ba thứ đó cho biết loài, đường đi và mật độ trong 20 phút, không cần thấy con nào.

Con chuột đang thấy là loài nào?

Nhìn phân trước, nhìn đuôi sau. Phân dài 15–20 mm hai đầu tù là chuột cống; phân 7–12 mm hai đầu nhọn là chuột mái; phân 3–6 mm như hạt gạo là chuột nhắt. Đuôi ngắn hơn thân là chuột cống, đuôi dài hơn thân là chuột mái, thân lọt lòng bàn tay là chuột nhắt.

LoàiThân và cân nặngĐuôi và taiPhânHay gặp ở
Chuột cống340–450 g, thân to và bèĐuôi ngắn hơn thân, tai nhỏ áp đầu15–20 mm, hai đầu tùHố ga, cống, phòng rác, gầm sàn
Chuột mái15–20 cm, 150–250 g, thân thonĐuôi dài hơn thân, tai to mỏng7–12 mm, hai đầu nhọnTrần thạch cao, xà mái, máng cáp
Chuột nhắt6–10 cm, 12–30 gĐuôi bằng thân, tai tròn to so với đầu3–6 mm, như hạt gạoNgăn kéo, tủ điện, sau tủ lạnh
Chuột nhắt nhỏ đuôi dài đi men chân tủ gỗ trên nền xi măng
Chuột nhắt đi men chân tủ gỗ: chỗ gặp, cỡ thân và đuôi là ba thứ để gọi tên loài mà không cần bắt

Chuột cống non hay bị nhầm với chuột nhắt. Phân biệt bằng đầu và chân: chuột cống non đầu to, chân to so với thân; chuột nhắt lớn đầu nhỏ, mũi nhọn, tai tròn to. Đặt hai thứ cạnh nhau là thấy ngay.

Chuột ở đâu trong nhà, kho và toà nhà?

Mỗi loài chọn một tầng. Chuột cống ở tầng thấp nhất: hố ga, rãnh thoát nước, gầm sàn nâng, phòng rác. Chuột mái ở tầng cao nhất: trần thạch cao, xà gồ mái tôn, máng cáp điện. Chuột nhắt ở ngay giữa chỗ người sinh hoạt: ngăn kéo, hộc tủ, sau tủ lạnh, trong tủ điện.

  • Đường vào của chuột cống: ống thoát nước không có lưới, khe chân cửa cuốn, lỗ luồn ống xuyên tường. Chuột cống chui lọt khe 12 mm.
  • Đường lên của chuột mái: ống thoát nước mưa, dây cáp treo, cành cây sà mái, tường gạch nhám. Lên tới trần rồi đi khắp toà nhà theo máng cáp.
  • Chuột nhắt đi theo hàng: thùng carton, bao gạo, két hàng từ kho vào; trong nhà chỉ quanh quẩn 3–9 m quanh ổ, ít khi đi xa.
Chuột leo dọc ống nước thoát mưa ngoài tường nhà
Chuột leo dọc ống thoát nước mưa ngoài tường: đường lên trần quen thuộc của chuột mái, nơi cần gắn nón chắn

Cách tìm đường đi tại chỗ: soi đèn pin sát chân tường và mép kệ. Chuột chạy men tường nên lông tiết mỡ để lại vệt đen bóng ở góc, ở mép lỗ. Vệt càng đậm, đường đi càng lâu năm.

Chuột đẻ bao nhiêu và đàn lớn nhanh ra sao?

Chuột cống mang thai 21–23 ngày, mỗi lứa 6–12 con, một năm 4–6 lứa; con non đẻ được sau khoảng 3 tháng. Chuột nhắt còn nhanh hơn: 5–6 con mỗi lứa, 5–10 lứa một năm, thành thục sau 6 tuần. Một cặp lọt vào kho tháng 1, cuối năm đã là vài chục con.

LoàiCon mỗi lứaLứa một nămĐẻ được sauSốngĐi kiếm ăn xa
Chuột cống6–124–6khoảng 3 tháng1–2 năm30–46 m
Chuột mái5–83–612–16 tuần1 năm30–46 m, trên cao
Chuột nhắt5–85–106 tuần9–12 tháng3–9 m

Số này quyết định nhịp kiểm tra. Chuột cống và chuột mái đi xa 30–46 m nên trạm bả đặt theo vành đai quanh nhà; chuột nhắt đi 3–9 m nên bẫy phải dày, cách nhau không quá 3 m ngay quanh ổ. Đặt thưa với chuột nhắt là bẫy cả tháng không dính.

Chuột gây hại gì ngoài cắn phá?

Ba thứ: bệnh, điện, và hồ sơ. Nước tiểu chuột cống mang xoắn khuẩn Leptospira, vào người qua vết xước khi lội nước ngập. Răng cửa chuột mọc dài khoảng 13 cm mỗi năm nên nó gặm dây điện để mài, gây chập. Với kho thực phẩm, phân chuột trên pallet là lỗi đoàn kiểm tra ghi biên bản ngay.

  • Bệnh: Leptospira từ nước tiểu chuột cống trong nước ngập; Salmonella từ phân chuột nhắt trên mặt bếp; Hantavirus từ bụi phân khô trong kho kín.
  • Điện và mạng: vỏ dây bị gặm hở lõi đồng trên trần, trong tủ điện, trong máng cáp. Chuột gặm dây điện nguy hiểm tới mức nào là câu đội kỹ thuật hay được hỏi sau một vụ chập.
  • Hồ sơ: nhà máy thực phẩm, bếp bệnh viện, kho lạnh đều bị hỏi sơ đồ trạm bả và sổ kiểm tra từng trạm. Không có sổ là lỗi, dù không thấy chuột.
Chuột mẹ và chuột con trong ổ giấy vụn dưới gầm kệ gỗ, cạnh thùng carton
Ổ chuột dưới gầm kệ cạnh thùng carton: chuột mẹ, chuột con và giấy vụn gom một chỗ cho biết chuột đã đẻ lứa ngay tại đây

Mùi khai ở góc kho và tiếng chạy trên trần về đêm là hai dấu thường được báo trước cả khi thấy phân. Nghe tiếng thì gần như chắc là chuột mái, vì chuột cống ít khi lên trần.

Nhà nhiều chuột còn kéo theo loài khác: rắn ráo, hổ đất vào nhà săn chuột, xem rắn vào nhà là rắn gì; mèo không chủ tụ về bãi rác, kho có chuột, xem mèo hoang quanh nhà.

Gọi đúng loài rồi thì xử lý khác nhau ở đâu?

Khác ở chỗ đặt. Trong nhà, bếp và kho thực phẩm chỉ dùng bẫy và hộp giám sát không thuốc, đặt đúng đường đi: sát chân tường cho chuột cống, trên xà và máng cáp cho chuột mái, dày quanh ổ cho chuột nhắt. Bả có thuốc chỉ nằm trong trạm có khoá ở vành đai ngoài nhà.

Chia như vậy vì chuột ăn bả trong nhà hay chết trong trần, hốc tường, vài ngày sau bốc mùi và kéo nhặng tới; bả rơi vãi trong bếp lại là rủi ro cho thực phẩm và trẻ nhỏ. Vì thế kỹ thuật viên không tự ý đặt bả bên trong, chỉ đặt khi chính khách yêu cầu. Chuột cống đi xa 30–46 m mỗi đêm, nên trạm ở vành đai vẫn nằm trên đường nó ra vào.

Gói định kỳ với chuột là 4 lượt mỗi tháng, tuần một lượt; mỗi lượt ghi trạm nào có dấu ăn, bẫy nào dính, lỗ nào mới gặm, rồi dời điểm đặt và bịt đường vào. Chuột giảm dần qua các lượt chứ không hết trong một lần.

Nên dùng bẫy hay bả cho nhà ở, đọc chuột vào nhà nên dùng bẫy hay bả. Bẫy đặt mãi không dính, xem tại sao chuột không ăn mồi của bạn. Nhà máy và kho có cách riêng ở cách xử lý chuột cho nhà máy, kho.

Về bài viết này

Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn.

Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.

Nguồn tham khảo

Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.

  1. Internet Center for Wildlife Damage Management (ICWDM). House Mice · Norway Rats — Identification · Roof Rats — Identification. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
  2. UC Statewide IPM Program (Đại học California). House Mouse — Pest Notes, Pest Notes 7483. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
  3. UF/IFAS (Đại học Florida), bản lưu trên trang Bộ Nông nghiệp bang Maine. Rat and Mouse Control (Koehler & Kern), ENY-224, 2005. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
  4. Đại học Nebraska–Lincoln, Internet Center for Wildlife Damage Management (Robert M. Timm). Norway Rats (Prevention and Control of Wildlife Damage, chương B-105), B-105, 1994. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
  5. Đại học Nebraska–Lincoln, Internet Center for Wildlife Damage Management (bản lưu của Sở Y tế hạt Allegheny, Hoa Kỳ). Rodent-Proof Construction and Exclusion Methods (Prevention and Control of Wildlife Damage, chương B-137), B-137, 1994. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
  6. Animal Diversity Web (Bảo tàng Động vật học, Đại học Michigan). Mus musculus (house mouse). Truy cập lần cuối 24/09/2026.
  7. Báo VnExpress. Nhiều mầm bệnh nguy hiểm gieo rắc từ chuột. Truy cập lần cuối 24/09/2026.

Đọc thêm về chuột (40 bài)

Bài khác về chuột (26)

Đồng hành thực tế

Đối tác & Khách hàng tiêu biểu

Một số doanh nghiệp đã làm việc với đội kỹ thuật: chuỗi nhà hàng, toà văn phòng, nhà máy và kho hàng.

Logo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàngLogo khách hàng
0902 977 907 0972 750 712 Zalo 0902 977 907Zalo 0972 750 712 Facebook