Chuột nhắt: 6–10 cm, lọt khe 6 mm, ổ ngay trong ngăn kéo
Chuột nhắt dài 6–10 cm, nặng 12–30 g, tai tròn to, mũi nhọn, phân 3–6 mm như hạt gạo. Nó chui lọt khe 6 mm, làm ổ ngay trong ngăn kéo, tủ điện, sau tủ lạnh, và chỉ đi 3–9 m quanh ổ. Một con thải hàng chục viên phân mỗi ngày nên mặt bếp sáng ra đầy hạt đen.
Sáng mở ngăn kéo thấy hạt đen li ti và giấy bị cắn vụn, nhưng đặt bẫy ở góc bếp cả tuần không dính: đó là chuột nhắt. Nó nhỏ tới mức sống cả đời trong một cái tủ, và không đi tới chỗ anh chị đặt bẫy.
Ở văn phòng và cửa hàng tiện lợi, chuột nhắt là loài đội kỹ thuật Khử Trùng Toàn Cầu gặp nhiều hơn chuột cống. Ổ thường nằm trong hộc tủ tài liệu hoặc sau máy in, cách chỗ thấy phân chỉ vài bước.
Nhận ra chuột nhắt bằng gì?
Thân lọt lòng bàn tay, 6–10 cm, nặng 12–30 g, đuôi dài bằng thân và có lông mịn. Đầu nhỏ, mũi nhọn, tai tròn to so với đầu, mắt đen lồi. Lông xám tro hoặc nâu nhạt, bụng xám bạc. Phân 3–6 mm, nhọn hai đầu, rải rác khắp nơi nó đi qua, không dồn đống.
| Xem ở | Chuột nhắt lớn | Chuột cống non (hay nhầm) |
|---|---|---|
| Thân | 6–10 cm, 12–30 g | Cỡ tương đương lúc 3–4 tuần tuổi |
| Đầu và chân | Đầu nhỏ, chân nhỏ cân đối | Đầu to, chân to so với thân |
| Tai | Tròn, to so với đầu | Nhỏ, áp đầu |
| Mũi | Nhọn | Tù |
| Đuôi | Bằng thân, có lông mịn | Ngắn hơn thân, trụi, dày |
| Phân | 3–6 mm, nhọn, rải rác | Cỡ nhỏ nhưng tù hai đầu |

Mùi cũng khác. Nước tiểu chuột nhắt có mùi khai hăng như amoniac, đậm nhất ở góc ngăn kéo hay hộc tủ nó ở. Mở tủ ngửi thấy mùi này là ổ nằm ngay trong tủ đó.
Chuột nhắt ở đâu và đi xa bao nhiêu?
Ngay giữa chỗ người sinh hoạt: ngăn kéo bàn, hộc tủ tài liệu, sau máy in, trong tủ điện, khoang mô-tơ tủ lạnh, thùng carton lưu trữ. Nó chỉ đi 3–9 m quanh ổ mỗi đêm, ăn nhiều lần mỗi lần một ít, và lấy nước từ thức ăn nên không cần ra chỗ có nước.
- Văn phòng: hộc tủ tài liệu, thùng giấy A4, pantry có gói mì, hộp bánh; máy in và tủ điện vì ấm.
- Bếp nhà hàng, nhà ở: sau tủ lạnh, ngăn kéo đồ khô, gầm bếp gas, hộp kỹ thuật cạnh bồn rửa.
- Cửa hàng, siêu thị nhỏ: kệ đồ khô sát tường, kho hàng sau quầy, thùng hàng chưa mở.
- Đường vào: theo thùng hàng, két, bao gạo; hoặc chui qua khe chân cửa 6 mm, lỗ luồn dây điện, khe nẹp chân tường.

Vì bán kính đi ngắn, cách tìm ổ đơn giản: chỗ nào phân dày nhất, ổ ở ngay quanh đó, thường là hộc kín và ấm gần nhất. Văn phòng đóng cửa cả cuối tuần mà sáng thứ hai vẫn có phân mới thì ổ ở trong phòng, không phải từ ngoài vào; xem văn phòng đóng kín vẫn có phân chuột.
Chuột nhắt đẻ bao nhiêu và đàn lớn nhanh ra sao?
Nhanh nhất trong ba loài. Chuột nhắt cái mang thai 19–21 ngày, đẻ 5–6 con mỗi lứa, 5–10 lứa một năm, con cái đẻ được sau 6 tuần. Một cặp vào tủ tháng 1, tới tháng 6 đã thành cả đàn nếu đủ ăn, và tất cả vẫn ở trong bán kính vài mét.
| Mốc | Chuột nhắt |
|---|---|
| Mang thai | 19–21 ngày |
| Con mỗi lứa | 5–6 |
| Lứa một năm | 5–10 |
| Đẻ được sau | 6 tuần |
| Sống | 9–12 tháng |
| Phân mỗi ngày | hàng chục viên |
| Ăn mỗi ngày | 3 g, chia khoảng 200 bữa nhỏ |
Ăn nhiều lần mỗi lần một ít là lý do bẫy cho chuột nhắt phải đặt ở nhiều điểm nhỏ quanh ổ thay vì dồn một chỗ, và bẫy keo hiệu quả hơn bẫy kẹp: nó tò mò, tới xem vật mới ngay trong đêm đầu, khác hẳn chuột cống.
Chuột nhắt làm bẩn và phá gì?
Phân và nước tiểu là cái hại chính. Một con thải hàng chục viên phân và hàng trăm giọt nước tiểu mỗi đêm lên mặt bếp, kệ chén, bao bì thực phẩm, mang theo Salmonella. Nó còn cắn giấy tờ, vải, xốp để lót ổ, và chui vào thùng máy tính, máy in gặm dây.
- Thực phẩm: bao gạo, mì, bánh bị cắn thủng góc; hàng đã bị cắn phải bỏ vì nước tiểu thấm vào.
- Dây điện, dây mạng: gặm ở chỗ khuất sau bàn, trong máng cáp thấp; đọc dây mạng đứt, làm sao biết là chuột gặm.
- Tài liệu, hàng vải: giấy trong hộc tủ bị xé vụn làm ổ, quần áo trong kho bị cắn lỗ.
- Mùi: khai hăng trong tủ kín, bám vào giấy tờ và đồ vải rất lâu.
Với bếp và kho thực phẩm, phân chuột nhắt trên kệ gia vị là lỗi đoàn kiểm tra thấy trước tiên vì nó rải rác khắp nơi, khác phân chuột cống dồn ở góc.
Xử lý chuột nhắt khác chuột cống ở chỗ nào?
Khác ở mật độ và ở chỗ đặt. Chuột nhắt đi 3–9 m nên bẫy keo đặt dày, sát chân tường và trong chính cái tủ có phân, mồi chấm bơ đậu phộng. Đặt bẫy cách ổ 10 m là ngoài tầm đi của nó. Chuột nhắt sống trong nhà nên dùng bẫy; bả chỉ đặt khi khách yêu cầu.
Bẫy mới là một nửa việc. Nửa còn lại là bịt các khe từ 6 mm trở lên quanh ống, dây điện, chân cửa, cất đồ khô vào hộp kín và kê thùng carton lên kệ cách tường, để chuột không có chỗ làm ổ sát thức ăn. Chuột nhắt ăn bả thường chui vào hốc tủ, sau vách mà chết, mùi kéo dài nhiều ngày, nên bẫy vẫn là cách chính.
Lượt kiểm tiếp theo xem phân mới và số con dính; khi không còn phân mới thì ghi biên bản, sau đó vẫn kiểm mỗi tuần một lượt theo gói định kỳ, vì chuột từ nhà bên vẫn có thể vào.

Khe bao nhiêu thì chuột nào chui lọt, đọc khe hở bao nhiêu thì chuột chui lọt. Văn phòng xem cách xử lý chuột cho văn phòng. Con to ở hố ga là chuột cống, con chạy trên trần là chuột mái; bảng so ba loài ở trang loài chuột.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- Internet Center for Wildlife Damage Management (ICWDM). House Mice. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- UC Statewide IPM Program (Đại học California). House Mouse — Pest Notes, Pest Notes 7483. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- UF/IFAS (Đại học Florida), bản lưu trên trang Bộ Nông nghiệp bang Maine. Rat and Mouse Control (Koehler & Kern), ENY-224, 2005. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Đại học Nebraska–Lincoln, Internet Center for Wildlife Damage Management (bản lưu của Sở Y tế hạt Allegheny, Hoa Kỳ). Rodent-Proof Construction and Exclusion Methods (Prevention and Control of Wildlife Damage, chương B-137), B-137, 1994. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Animal Diversity Web (Bảo tàng Động vật học, Đại học Michigan). Mus musculus (house mouse). Truy cập lần cuối 24/09/2026.

















