Bẫy chuột nên dùng mồi gì?
Bơ đậu phộng là mồi dễ dùng nhất cho cả ba loài; chuột cống thích thêm khô mực, cá khô nướng; chuột mái thích chuối chín, hạt; chuột nhắt thích hạt hướng dương, bánh ngọt. Chỉ dùng lượng bằng hạt đậu, phết chặt vào lẫy để chuột phải chạm mới ăn được. Thay mồi tươi mỗi 2–3 ngày.

Hỏi mười người cách bẫy chuột thì có mười loại mồi: cá khô nướng, khô mực, xúc xích, bánh mì chấm dầu, dừa rang, chuối chín, bơ đậu phộng, có người còn dùng sô-cô-la. Loại nào cũng có lúc bắt được, có lúc không. Mồi tốt không phải mồi thơm nhất, mà là mồi hợp với loài chuột nhà mình, khác với thức ăn chuột đang có sẵn, và được gắn sao cho chuột phải làm bẫy sập mới ăn được.
Bài này đi qua từng phần: chuột nào thích ăn gì, mồi nào dùng được cho loại bẫy nào, lượng bao nhiêu, gắn thế nào, thay khi nào, và làm gì khi mồi bị ăn mà bẫy không sập. Chuyện chuột không đụng tới mồi có bài riêng: tại sao chuột không ăn mồi của bạn.
Mỗi loài chuột thích ăn gì?
Chuột cống ăn tạp, thích đồ có đạm và mỡ như thịt, cá, trứng, cơm thừa, thức ăn cho thú nuôi. Chuột mái thích trái cây, hạt, ngũ cốc, rau củ, hay ăn trên cao. Chuột nhắt thích hạt, ngũ cốc, bánh ngọt, ăn ít mỗi lần nhưng ăn nhiều chỗ. Chọn mồi theo loài thì chuột dễ ăn hơn.
| Loài | Thức ăn ưa thích | Cách ăn |
|---|---|---|
| Chuột cống | Thịt, cá, trứng, cơm thừa, thức ăn thú nuôi | Ăn nhiều một lần, cảnh giác với đồ lạ |
| Chuột mái | Trái cây, hạt, ngũ cốc, rau củ | Ăn trên cao, tha đồ ăn về ổ |
| Chuột nhắt | Hạt, ngũ cốc, bánh ngọt, đồ có đường | Ăn ít, gặm nhiều chỗ, tò mò |
Chuột cần nước mỗi ngày, nhất là chuột cống. Nhà khô ráo, không có nước đọng thì mồi có độ ẩm như chuối chín, bánh mì chấm sữa có thể hấp dẫn hơn mồi khô. Trang chuột nhắt, chuột nhỏ lọt khe 6 mm có thêm về cách ăn của loài này.

Những mồi nào hay dùng nhất?
Bơ đậu phộng, khô mực nướng, cá khô nướng, chuối chín, hạt hướng dương, xúc xích, dừa nạo rang và bánh mì chấm dầu ăn là tám mồi kỹ thuật viên và người dân hay dùng. Mỗi loại có điểm mạnh riêng: mùi, độ bám, độ bền, giá. Bơ đậu phộng dùng được cho nhiều tình huống nhất.
| Mồi | Hợp loài | Ưu điểm | Nhược điểm |
|---|---|---|---|
| Bơ đậu phộng | Cả ba loài | Mùi mạnh, bám chặt lẫy, lâu khô | Kiến hay bu |
| Khô mực nướng | Chuột cống, chuột mái | Mùi rất mạnh, dai, khó tha | Giá cao, mèo chó cũng thích |
| Cá khô nướng | Chuột cống | Mùi mạnh, rẻ | Mau khô cứng, hút ruồi |
| Chuối chín | Chuột mái, chuột nhắt | Ngọt, có nước | Mau thâm, hút ruồi giấm |
| Hạt hướng dương, lạc | Chuột nhắt, chuột mái | Rẻ, bền, sạch | Chuột dễ tha đi nếu không buộc |
| Xúc xích, lạp xưởng | Chuột cống | Mùi mỡ, dễ cắt nhỏ | Mau ôi ở nhiệt độ cao |
| Dừa nạo rang | Chuột mái, chuột nhắt | Mùi thơm, béo | Rời, khó gắn |
| Bánh mì chấm dầu ăn | Chuột cống, chuột nhắt | Rẻ, có sẵn | Mau khô, mau mốc |

Không cần mua mồi đặc biệt. Đa số các mồi trên đều có sẵn trong bếp. Điều cần nhớ là mồi phải khác hoặc ngon hơn thứ chuột đang ăn được trong nhà.
Chọn mồi theo chỗ đặt bẫy ra sao?
Ở bếp nhiều đồ ăn, chọn mồi mùi mạnh, khác thức ăn sẵn có như khô mực, bơ đậu phộng. Ở kho gạo, cửa hàng hàng khô, chọn mồi đạm như cá khô vì chuột đã no hạt. Ở trần, gác mái, chọn mồi không chảy nước như hạt, bơ đậu phộng. Ở phòng ngủ, chọn mồi ít mùi tanh.
| Chỗ đặt bẫy | Chuột đang ăn gì | Mồi nên dùng |
|---|---|---|
| Bếp, tủ đồ khô | Gạo, mì, đồ ăn thừa | Khô mực, bơ đậu phộng |
| Kho gạo, cửa hàng hàng khô | Hạt, ngũ cốc | Cá khô, xúc xích, bơ đậu phộng |
| Trên trần, gác mái | Ít đồ ăn, đi xuống bếp | Hạt hướng dương, bơ đậu phộng |
| Phòng ngủ | Đồ ăn vặt rơi | Bơ đậu phộng, chuối chín |
| Gara, sân, gần cống | Rác, thức ăn thú nuôi | Cá khô, xúc xích |
| Nhà hàng, quán ăn | Thịt, cá, rác thức ăn | Bơ đậu phộng, bánh ngọt, đổi mồi thường |
Ở nhà hàng, quán ăn, chuột đã có rất nhiều thức ăn ngon, nên mồi thường kém hấp dẫn hơn. Lúc đó dọn nguồn ăn trước, rồi mới đặt bẫy. Bài tự diệt chuột nhà hàng: mồi, bẫy và bịt đường vào nói kỹ chỗ này.

Dùng bao nhiêu mồi là đủ?
Chỉ cần lượng bằng hạt đậu xanh tới hạt lạc, khoảng nửa thìa cà phê bơ đậu phộng. Mồi to quá thì chuột đứng ngoài gặm được mà không chạm lẫy, hoặc ăn no rồi bỏ đi. Mồi nhỏ, gắn chặt buộc chuột phải dùng răng kéo, đẩy, làm lẫy chuyển động và bẫy sập.
- Bơ đậu phộng: cỡ hạt đậu xanh, phết vào lõm của lẫy.
- Khô mực, cá khô: sợi dài 2–3 cm, buộc vào lẫy bằng chỉ.
- Hạt hướng dương: 3–5 hạt, dán bằng một chút bơ đậu phộng.
- Chuối chín: miếng cỡ đầu ngón tay, cắm chặt vào móc lẫy.
- Xúc xích: lát mỏng, cắt đôi, xuyên vào móc.
- Bẫy lồng: mồi to hơn một chút, treo ở móc cuối lồng, rắc vài vụn ở cửa.
Kỹ thuật viên hay gặp bẫy nhà dân có cả nửa con cá khô trên lẫy. Chuột ăn hết phần dư bên ngoài, no rồi đi, bẫy vẫn chưa sập.
Gắn mồi thế nào để bẫy sập?
Mồi phải gắn chặt vào lẫy, ở chỗ chuột phải đứng đúng vị trí và kéo mới ăn được. Bơ đậu phộng phết vào lõm lẫy; mồi cứng buộc bằng chỉ mảnh quấn quanh lẫy; mồi mềm ấn vào móc. Không đặt mồi rời cạnh bẫy, vì chuột ăn mồi rời trước rồi đi, không cần vào bẫy.
| Loại bẫy | Cách gắn mồi |
|---|---|
| Bẫy kẹp | Phết bơ đậu phộng vào lõm lẫy, hoặc buộc sợi khô mực bằng chỉ |
| Bẫy lồng | Treo mồi ở móc cuối lồng, rắc vài vụn mồi từ cửa vào trong |
| Bẫy keo | Đặt mồi nhỏ ở giữa tấm, không đặt mồi rời ngoài mép |
| Bẫy điện | Đặt mồi vào khay mồi phía cuối hộp |
| Bẫy nhiều ngăn | Đặt mồi ở khay giữa, vài hạt rải từ cửa vào |
Với bẫy kẹp, có thể buộc mồi bằng chỉ len hoặc chỉ khâu quanh lẫy vài vòng. Chuột kéo chỉ để lấy mồi sẽ làm lẫy chuyển động. Chỉ len còn hút chuột cái đang tìm vật liệu làm ổ.

Có nên cho chuột quen mồi trước không?
Có, nhất là với chuột cống và chuột mái. Đặt bẫy chưa gài lẫy, có mồi, ở đúng lối trong 2–3 đêm để chuột quen ăn ở đó. Khi thấy mồi bị ăn đều mỗi đêm thì mới gài lẫy. Cách này giúp bắt được những con cảnh giác, thường là con to nhất trong đàn.
- Đặt bẫy ở lối chạy, không gài lẫy.
- Đặt mồi như khi gài thật, thêm vài vụn ở quanh.
- Sáng kiểm mồi còn hay hết, có phân quanh bẫy không.
- Thay mồi tươi mỗi tối trong 2–3 đêm.
- Đêm thứ 3 hoặc thứ 4, khi mồi bị ăn đều, gài lẫy.
- Giữ cùng loại mồi, cùng vị trí khi gài.
Chuột sợ đồ lạ trong vài ngày đầu là đặc điểm rất rõ ở chuột cống. Bài chuột có thông minh không, vì sao né bẫy mới đặt giải thích kỹ hơn.
Mồi bị ăn mà bẫy không sập là vì sao?
Thường vì mồi quá to, gắn lỏng, chuột ăn từ bên ngoài không chạm lẫy; lẫy cứng, gài quá chặt; bẫy kẹp quá to so với chuột nhắt nhẹ; hoặc mồi đặt ở mép thay vì đúng giữa lẫy. Chỉnh mồi nhỏ lại, gắn chặt hơn, chỉnh lẫy nhạy hơn rồi đặt lại đúng chỗ.
| Nguyên nhân | Dấu nhận ra | Cách sửa |
|---|---|---|
| Mồi quá to | Mồi mất một phần, bẫy chưa sập | Dùng lượng bằng hạt đậu |
| Mồi gắn lỏng | Mồi mất hết, lẫy sạch | Phết bơ đậu phộng, buộc chỉ |
| Lẫy cứng | Thử bằng bút chì không sập | Chỉnh lẫy nhạy hơn, thay bẫy |
| Bẫy to, chuột nhẹ | Chuột nhắt ăn mà không đủ nặng | Dùng bẫy kẹp nhỏ |
| Đặt bẫy song song tường | Chuột ăn từ cạnh | Đặt vuông góc, lẫy sát tường |
| Kiến, gián ăn mồi | Mồi mất, có kiến quanh | Đổi mồi khô, đặt bẫy cách xa đường kiến |
Thử lẫy bằng đầu bút chì trước khi đặt: chạm nhẹ là sập là lẫy đã nhạy. Bài bẫy lồng, kẹp hay keo, bắt chuột loại nào tốt có cách xem bẫy tốt khi mua.

Mồi để bao lâu thì thay?
Mồi tươi như chuối, xúc xích, bánh mì thay mỗi 1–2 ngày, vì mau thâm, mau mốc ở nhiệt độ cao. Mồi khô như bơ đậu phộng, khô mực, hạt hướng dương thay mỗi 2–3 ngày, hoặc ngay khi đã khô cứng, có kiến bu. Mồi cũ mất mùi, chuột ít để ý, còn hút ruồi kiến.
- Chuối, xúc xích, bánh mì: 1–2 ngày.
- Bơ đậu phộng: 2–3 ngày, khi mặt mồi đã khô.
- Khô mực, cá khô: 2–3 ngày, khi đã cứng, hết mùi.
- Hạt hướng dương, lạc: 3–5 ngày nếu không bị ẩm.
- Ngay khi có kiến: thay mồi, lau bẫy.
- Đeo găng khi thay: tránh để mùi tay người trên bẫy.
Ghi lịch thay mồi lên sơ đồ bẫy, nhất là khi đặt nhiều bẫy. Bẫy để mồi khô cứng cả tuần là lý do hay gặp khiến "bẫy mãi không bắt được".
Ngoài thức ăn còn mồi gì khác?
Chuột cái đang chuẩn bị đẻ tìm vật liệu làm ổ: bông gòn, chỉ len, sợi vải mềm, giấy vụn. Buộc một nhúm bông hoặc chỉ len vào lẫy bẫy kẹp đôi khi bắt được những con không ăn mồi thức ăn. Ở nơi khô, mồi có nước như miếng dưa leo, bánh mì chấm sữa cũng hấp dẫn.
| Mồi không phải thức ăn chính | Khi nào dùng |
|---|---|
| Bông gòn, chỉ len | Mùa chuột đẻ, khi thấy chuột tha giấy, vải |
| Giấy vụn mềm | Kho, nơi có nhiều thùng carton |
| Dưa leo, miếng dưa hấu | Nơi khô, không có nước đọng |
| Bánh mì chấm sữa | Nơi khô, chuột nhắt |
Mồi vật liệu làm ổ không thay được mồi thức ăn, chỉ là cách thêm cho những con khó bắt. Thấy ổ có chuột con thì bài chuột con ăn gì, gặp trong nhà làm gì có cách xử lý.
Tự trộn mồi từ đồ có sẵn trong bếp được không?
Được, và nhiều khi trộn lại bám lẫy tốt hơn mồi đơn. Bơ đậu phộng trộn với yến mạch hoặc vụn bánh quy thành viên dẻo, chuột nhắt rất thích. Cơm nguội trộn chút dầu ăn và vụn cá khô nướng hợp chuột cống. Chuối chín nghiền với hạt hướng dương giã dập hợp chuột mái.
| Mồi trộn | Thành phần | Hợp loài |
|---|---|---|
| Viên bơ đậu phộng | Bơ đậu phộng, yến mạch hoặc vụn bánh quy | Chuột nhắt, chuột mái |
| Cơm cá | Cơm nguội, dầu ăn, vụn cá khô nướng | Chuột cống |
| Chuối hạt | Chuối chín nghiền, hạt hướng dương giã dập | Chuột mái, chuột nhắt |
| Bánh mì sữa | Bánh mì vụn, sữa đặc một chút | Chuột nhắt, nơi khô |
| Dừa rang mỡ | Dừa nạo rang, vài giọt mỡ hành | Chuột cống, chuột mái |
Viên mồi trộn chỉ nên to bằng hạt lạc, ấn chặt vào lẫy. Làm mỗi lần một ít, cất trong hộp kín ở ngăn mát, dùng trong 2–3 ngày. Không trộn mồi với thuốc hay bả, vì mồi trong bẫy chỉ cần dụ chuột vào.

Kho, cửa hàng, nhà hàng chọn mồi khác nhà ở ra sao?
Kho, cửa hàng, nhà hàng có rất nhiều thức ăn sẵn, nên chuột ít để ý tới mồi hơn nhà ở. Hãy dọn bớt nguồn ăn trước, rồi dùng mồi khác hẳn hàng trong kho: kho gạo dùng mồi đạm, kho đồ hộp dùng mồi ngọt, nhà hàng dùng bơ đậu phộng, bánh ngọt và đổi mồi thường hơn.
- Kho gạo, hàng khô: cá khô, xúc xích, bơ đậu phộng.
- Kho đồ uống, đồ hộp: chuối chín, bánh ngọt, bơ đậu phộng.
- Kho thức ăn thú nuôi: mồi ngọt hoặc mồi có nước.
- Nhà hàng, bếp ăn: bơ đậu phộng, bánh ngọt; đổi mồi mỗi tuần.
- Cửa hàng tạp hoá: mồi khác hàng đang bán nhiều nhất.
- Ghi sổ: điểm nào ăn mồi nào, dồn bẫy về điểm hoạt động.
Ở kho, cửa hàng, hộp giám sát có mồi sáp không thuốc là cách theo dõi chuột lâu dài mà không lo mồi ôi thiu. Bài cửa hàng tạp hoá có chuột, xử lý thế nào có cách đặt bẫy sau giờ đóng cửa.

Nhà có chó mèo thì dùng mồi gì?
Khô mực, cá khô, xúc xích hấp dẫn chó mèo không kém chuột, dễ làm thú cưng bị kẹp mõm, chân. Nhà có thú cưng nên dùng bơ đậu phộng, hạt hướng dương, và đặt bẫy trong hộp kín có lỗ vừa chuột, đặt sau tủ, trên trần, nơi thú cưng không tới.
- Ưu tiên mồi ít mùi tanh: bơ đậu phộng, hạt.
- Đặt bẫy kẹp trong hộp nhựa có lỗ 4–5 cm.
- Đặt sau tủ lạnh, gầm tủ có cửa, trên trần.
- Đóng cửa phòng có bẫy vào ban đêm nếu thú cưng hay đi.
- Kiểm mỗi sáng trước khi cho thú cưng ra.
- Không dùng bả có thuốc trong nhà.
Chó mèo lỡ ăn bả chuột là chuyện khẩn cấp. Cùng nhóm bài chuột theo tình huống, anh chị có thể đọc thêm làm sao biết nhà đã hết chuột và chó mèo ăn phải bả chuột, làm gì ngay.

Những sai lầm hay gặp khi chọn mồi?
Sai lầm hay gặp nhất là mồi quá to, chuột ăn no mà bẫy không sập. Thứ hai là để mồi cũ khô cứng nhiều ngày. Thứ ba là rải mồi rời quanh bẫy, chuột ăn mồi rời rồi đi. Thứ tư là gài bẫy bằng tay trần sau khi cầm cá, thịt sống.
| Sai lầm | Hậu quả | Cách đúng |
|---|---|---|
| Mồi quá to | Chuột ăn no, bẫy không sập | Lượng bằng hạt đậu |
| Mồi cũ khô cứng | Hết mùi, chuột không để ý | Thay 1–3 ngày tuỳ loại |
| Rải mồi rời quanh bẫy | Chuột ăn mồi rời rồi đi | Chỉ vài vụn dẫn vào, mồi chính trên lẫy |
| Cầm mồi tay trần | Mùi người, chuột né | Đeo găng |
| Mồi giống thức ăn sẵn có | Chuột không ưu tiên | Chọn mồi khác, mạnh mùi hơn |
| Đổi mồi mỗi ngày | Chuột chưa quen | Giữ một mồi 3–5 đêm rồi mới đổi |
Mồi chỉ hiệu nghiệm khi bẫy đặt đúng lối. Mồi ngon đến đâu mà bẫy đặt giữa nhà, xa đường chuột đi thì vẫn trống. Bài đặt bẫy chuột ở đâu mới bắt được chỉ chỗ đặt.
Khi nào nên gọi người làm?
Nên gọi khi đã đổi mồi, chỉnh bẫy 2 tuần mà vẫn không bắt được, khi chuột ăn mồi mà bẫy không sập, khi nhà có cả ba loài, hoặc khi nhà có trẻ nhỏ, chó mèo và không muốn tự đặt bẫy kẹp. Kỹ thuật viên khảo sát không thu phí, chọn bẫy và mồi theo loài.
Đội kỹ thuật của Khử Trùng Toàn Cầu truy dấu bằng đèn UV, đặt bẫy, hộp giám sát có mồi không thuốc trong nhà, trạm bả có khoá ở sân, đổi mồi theo kết quả từng lần kiểm và ghi sơ đồ điểm bẫy. Xem trang dịch vụ diệt chuột, cách bố trí theo chuột trong nhà ở và căn hộ, và giá tại bảng giá diệt chuột nhà ở.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn, từ kinh nghiệm thi công tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam từ năm 2020.
Duyệt chuyên môn: Lê Thành Nhân, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Khử Trùng Toàn Cầu.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- UC Statewide IPM Program (Đại học California). House Mouse — Pest Notes, Pest Notes 7483 · Rats — Pest Notes, Publication 74106, 2025. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- UF/IFAS (Đại học Florida), bản lưu trên trang Bộ Nông nghiệp bang Maine. Rat and Mouse Control (Koehler & Kern), ENY-224, 2005. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Đại học Nebraska–Lincoln, Internet Center for Wildlife Damage Management (bản lưu của Sở Y tế hạt Allegheny, Hoa Kỳ). Rodent-Proof Construction and Exclusion Methods (Prevention and Control of Wildlife Damage, chương B-137), B-137, 1994. Truy cập lần cuối 24/09/2026.

















