Một đợt xử lý gián cho nhà hàng diễn ra thế nào?
Một đợt kéo dài khoảng 4 tuần, gồm bốn mốc: khảo sát đếm 20–60 ổ, buổi đầu 2–3 giờ sau giờ đóng cửa để hút ổ, chấm gel và xử lý cống, lượt kiểm ngày 7–14 bằng bẫy keo, rồi lượt cuối ngày 21–30 cho lứa nở từ bọc trứng sót. Mỗi lượt có phiếu bàn giao.

Một đợt xử lý gián cho nhà hàng gồm những mốc nào?
Một đợt có bốn mốc trải trong khoảng 4 tuần, không phải một buổi. Buổi đầu chỉ đặt gel đúng chỗ; kết quả đo được ở lượt kiểm ngày 7–14, và lượt ngày 21–30 đón nốt lứa nở từ bọc trứng còn sót trong khe. Quán thấy gián giảm dần qua từng mốc.
| Mốc | Kỹ thuật viên làm | Quán thấy gì |
|---|---|---|
| Khảo sát, trước 2–7 ngày | Soi khe, đếm ổ, mở cống, lập phiếu | Phiếu số ổ, số điểm gel, giờ làm |
| Buổi đầu, sau đóng cửa | Hút ổ lộ, chấm gel, xử lý cống, đặt bẫy | Ngày 1–3 gián bò chậm ra rồi chết |
| Ngày 7–14 | Đọc bẫy, soi lại ổ, gel bổ sung | Gián giảm 70–80% sau 7 ngày |
| Ngày 21–30 | Lượt kiểm cuối, thay gel đã ăn hết | Bẫy gần trống, hiếm khi thấy bao trứng mới |

Ở buổi khảo sát, kỹ thuật viên soi gì và ghi gì?
Kỹ thuật viên soi đèn pin vào những khe ấm gần nước và thức ăn, đếm khe có phân và bao trứng, vì mỗi khe như vậy là một ổ. Bếp nhà hàng thường có 20–60 ổ. Khảo sát nên vào ban đêm hoặc cuối ca, lúc gián ra ăn và dễ thấy đường đi nhất.
- Mô-tơ bàn lạnh, tủ mát, khe cửa tủ đông.
- Khe bàn inox, chân bếp chiên, khe giữa thiết bị và tường.
- Kệ gia vị, tủ kho khô, chồng carton chưa bỏ.
- Gầm máy rửa chén, gầm bồn rửa, cống sàn, bẫy mỡ.
- Sổ ghi chỗ nhân viên từng thấy gián trong 2 tuần trước, nếu quán có.
Phiếu khảo sát ghi số ổ, số điểm gel dự kiến, số điểm cống, số buổi và giờ làm. Phần quán dọn và cất đồ trước buổi làm có ở bài nhà hàng chuẩn bị gì trước buổi xử lý gián.
Buổi xử lý đầu diễn ra theo các bước nào?
Buổi đầu mất 2–3 giờ, thường bắt đầu sau khi bếp đóng cửa, và xong trước nửa đêm với bếp cỡ vừa. Gel đặt trước, phun cống sau và phun ở chỗ khác gel, vì thuốc phun dính lên gel làm gián bỏ ăn. Bếp mở lại ca sáng bình thường.
- Đối chiếu phiếu: đi lại từng khe đã ghi, bổ sung ổ mới, chốt số điểm gel với người ở lại.
- Hút ổ lộ: hút gián, xác, bao trứng ở ổ lớn bằng máy hút cầm tay; không xịt.
- Chấm gel: điểm 0,1–0,3 g ở mô-tơ bàn lạnh, khe inox, chân bếp, kệ gia vị; 2–3 điểm mỗi ổ, cách mặt tiếp xúc thực phẩm.
- Xử lý cống nếu có gián Mỹ: phun tồn lưu cổ cống, hố ga; lắp nắp thoát sàn có màng ngăn.
- Đặt bẫy keo đánh số: ở gầm bếp, gầm bồn, kho khô, để các lượt kiểm so cùng chỗ.
- Bàn giao: phiếu ghi điểm gel, số bẫy, chỗ không được lau trong 14 ngày.

Vì sao kỹ thuật viên không phun tràn trong bếp?
Vì bề mặt khu chế biến tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, lớp thuốc phun lên đó là rủi ro nhiễm chéo. Phun tràn còn làm gián Đức tản sang khe khác và né mùi, đúng lúc gel cần gián tìm tới ăn. Phun chỉ dùng ở cổ cống, hố ga, khu rác và vành ngoài.
Gián Đức ăn gel rồi về chết trong ổ; con khác ăn xác và phân của nó cũng chết. Vì vậy 1–3 ngày đầu thấy gián bò ra chậm chạp là dấu hiệu gel đang có tác dụng, quán không nên xịt thêm.

Lượt kiểm ngày 7–14 và ngày 21–30 làm những gì?
Hai lượt kiểm dùng bẫy keo đánh số để đo, không dựa vào cảm giác của bếp. Ở lượt ngày 7–14, dưới 3 con mỗi bẫy qua đêm và không có gián con mới là đạt; lượt ngày 21–30 soi xem còn bao trứng mới không, sau khi lứa trứng sót đã nở.
- Đọc từng bẫy theo số, ghi số con, tách gián con với gián lớn.
- Soi lại các ổ trên phiếu: gel đã ăn hết hay còn, có phân mới không.
- Chấm gel bổ sung ở điểm đã ăn hết; ổ còn đông thì thêm điểm.
- Bẫy nào còn cao thì soi rộng quanh đó tìm ổ sót.
- Đổi sang hoạt chất khác khi bả không hiệu quả sau 2–3 tuần, ghi loại gel mới vào phiếu.
Làm đúng, số gián thường giảm hơn 95% sau 14 ngày, tức chỉ còn dưới 5% so với lúc đầu. Bẫy trống mà vẫn thấy dấu gián thì đọc bài bẫy dính gián không bắt được con nào.

Phiếu bàn giao sau mỗi lượt ghi những gì?
Phiếu là thứ quán giữ lại sau mỗi lượt, và là giấy tờ đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm hỏi tới. Phiếu tốt cho biết thuốc nằm ở đâu, bẫy đo được bao nhiêu, và quán còn phải sửa gì trước lượt sau. Không có phiếu thì lượt sau không so được với lượt trước.
- Sơ đồ điểm gel và bẫy đánh số.
- Tên thuốc (loại có trong danh mục Bộ Y tế cho phép), số đăng ký, lượng đã dùng.
- Số con trên từng bẫy ở mỗi lượt kiểm.
- Kiến nghị cho quán: chỗ ẩm, khe cần trám, carton cần bỏ.
- Giờ vào, giờ ra, người nhận bàn giao ký tên.
Cách giữ phiếu thành hồ sơ theo kỳ có ở bài gián và hồ sơ an toàn thực phẩm của nhà hàng.
Khi nào một đợt chưa đủ và làm gì tiếp?
Sau lượt ngày 21–30 vẫn có gián con mới trên bẫy nghĩa là còn ổ chưa tìm ra hoặc gián mới vẫn theo hàng vào. Việc tiếp theo là soi lại từ khâu nhận hàng và kho khô, chứ không phải thêm thuốc. Bếp nhận hàng tươi mỗi ngày thường chuyển sang kiểm theo lịch sau đợt đầu.
Việc nào của quán, việc nào của kỹ thuật viên trong cả đợt có ở bài xử lý gián bếp nhà hàng: quán làm gì, thợ làm gì; nên làm theo lần hay định kỳ ở bài nhà hàng nên xử lý gián theo lần hay định kỳ. Cách làm theo khu bếp ở gián trong bếp nhà hàng: bàn lạnh, khe inox; các bước dịch vụ ở dịch vụ diệt gián: bơm gel, chặn cống; chi phí ở bảng giá diệt gián cho nhà hàng.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn, từ kinh nghiệm thi công tại TP.HCM và các tỉnh lân cận từ năm 2020.
Duyệt chuyên môn: Lê Thành Nhân, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Khử Trùng Toàn Cầu.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- Texas A&M AgriLife Extension. Cockroach Biology and Management (ENTO-037), ENTO-037, 2017. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Journal of Economic Entomology 96(3):863–870 (Appel AG, Auburn University). Laboratory and Field Performance of an Indoxacarb Bait Against German Cockroaches (Dictyoptera: Blattellidae), 2003. Truy cập lần cuối 29/09/2026.

















