Chặn côn trùng xâm nhập nhà máy thực phẩm
Chặn xâm nhập là việc của kết cấu, không phải của hoá chất. Làm theo ba lớp: vành ngoài không có chỗ trú và nước đọng; vỏ nhà kín với khe dưới cửa không quá 6 mm, lưới chắn cửa sổ, ống xuyên tường được trám; lớp bên trong dùng đèn keo và bẫy để đo.

Chặn côn trùng xâm nhập nhà máy thực phẩm gồm những lớp nào?
Ba lớp, làm theo thứ tự từ ngoài vào trong: vành ngoài giảm áp lực trước khi côn trùng tới tường, vỏ nhà không cho chúng vào được, và lớp bên trong phát hiện sớm con đã lọt qua. Lớp thứ ba không để chặn mà để đo; số liệu bên trong tăng là dấu hiệu lớp ngoài đang hỏng.
| Lớp | Mục tiêu | Biện pháp chính | Ai chịu trách nhiệm |
|---|---|---|---|
| Vành ngoài | Giảm áp lực trước khi tới tường nhà | Cắt cỏ, dọn vật tư, xử lý hố ga, trạm bả có khoá | Bộ phận cơ sở vật chất và bên kiểm soát |
| Vỏ nhà | Không cho vào được | Gioăng cửa, lưới chắn, trám ống, rèm ở cửa mở liên tục | Bộ phận bảo trì |
| Bên trong | Phát hiện sớm con đã lọt vào | Đèn keo, bẫy dính, bẫy cơ học, sổ số liệu | Bên kiểm soát và bộ phận chất lượng |
Vì sao lớp vỏ nhà quan trọng nhất?
Vì đây là lớp duy nhất làm việc 24 giờ mỗi ngày mà không cần ai làm gì thêm. Một gioăng cửa còn tốt chặn được nhiều hơn cả năm phun cộng lại, và nhà máy thực phẩm lại không được dùng hoá chất trong khu sản xuất, nên kết cấu là thứ phải gánh phần lớn việc chặn.
Đây cũng là lớp rẻ nhất tính trên thời gian dùng: gioăng, lưới, keo trám và tấm chặn dùng được nhiều năm, trong khi hoá chất phải lặp lại mỗi kỳ. Nguyên tắc vệ sinh chung Codex CAC/RCP 1–1969 cũng đòi đúng những thứ này: bịt lỗ, lưới ở cửa sổ và lỗ thông gió, kê hàng cách tường.
Cửa và khe cửa phải kín tới mức nào?
Khe dưới cửa không quá 6 mm, vì chuột nhắt lọt được khe từ cỡ đó; còn gián Đức chỉ cần một khe 1,6 mm, nên cửa khu chế biến phải có gioăng kín cả ba cạnh. Cửa mở liên tục cho xe nâng thì cần thêm rèm nhựa hoặc rèm khí.
- Gioăng cao su ở ba cạnh cửa, kiểm rách mỗi quý; cửa nhận hàng kiểm mỗi tháng.
- Cửa cuốn khu nhận hàng có tấm chặn dưới, không để hở góc; khe cửa cuốn từ 6 mm là phải sửa.
- Rèm nhựa rẻ và tốt nếu dải còn đủ dài, không bị vén; rèm khí tiện cho xe nâng nhưng phải lắp đúng hướng.
- Cửa thoát hiểm luôn đóng kín, không chèn để lấy gió.
Điểm cuối là lỗi hay gặp nhất: một cửa bị chèn mở để thông gió làm cả lớp vỏ nhà mất tác dụng, dù mọi gioăng khác còn tốt.
Ống, cống và phễu thoát sàn bịt thế nào?
Trám kín quanh thân mọi ống xuyên tường, và lắp lưới chặn cùng nắp một chiều cho phễu thoát sàn. Khe quanh ống là lối vào của chuột và gián mà mắt thường ít để ý; phễu thoát sàn là đường gián Mỹ đi lên từ cống, và là nơi tích ẩm cho ruồi cống sinh sản.
- Trám cổ ống bằng vữa hoặc keo có lưới thép sau mỗi lần lắp thiết bị, không nhét xốp.
- Máng cáp, ống gió xuyên tường có tấm bịt quanh, kiểm lại sau mỗi đợt sửa chữa.
- Phễu thoát sàn có lưới và nắp một chiều, vệ sinh màng nhớt trong ống theo lịch.
- Hố ga ngoài xưởng có nắp kín, không để nắp lệch sau khi thông tắc.

Mái, cửa sổ và lỗ thông gió chặn côn trùng bay ra sao?
Bằng lưới chắn ở mọi cửa sổ mở được, đầu ngoài ống thông gió và quạt hút. Lưới chắn côn trùng thường dùng loại 16 mắt mỗi inch, đủ nhỏ để ruồi nhà không qua được. Mái tôn cần kiểm khe ở diềm mái, nơi chim và dơi hay làm tổ, rồi kéo theo côn trùng và phân.
Với chim, biện pháp là chặn chỗ đậu và chỗ làm tổ bằng lưới hoặc gai chắn, không phải diệt. Phân chim trên mái và máng xối là nguồn nhiễm, cũng là chỗ côn trùng sinh sản ngay trên đầu khu sản xuất.
Vành ngoài giảm áp lực trước khi tới tường bằng cách nào?
Bằng cách không để lại chỗ trú và nước đọng sát tường nhà xưởng. Côn trùng và chuột đi từ cỏ, cống, khu rác vào tường mỗi đêm; một dải trống sát chân tường vừa cắt chỗ trú, vừa giúp nhìn thấy dấu vết. Sáu việc dưới đây lặp lại theo lịch.
- Chừa dải sỏi hoặc bê tông rộng khoảng 1 m sát chân tường, không trồng cây sát tường.
- Cắt cỏ ngắn và dọn lá mục quanh khuôn viên.
- Không để pallet, vỏ thùng, vật tư cũ dựa vào tường nhà xưởng.
- Xử lý lăng quăng ở hố ga và rãnh thoát theo lịch.
- Đặt trạm bả chuột có khoá dọc hàng rào và quanh nhà xưởng.
- Đổi đèn chiếu sáng ngoài sang ánh sáng vàng và dời xa cửa.

Khu tiếp nhận hàng và lớp bên trong cần làm gì?
Khu tiếp nhận là điểm yếu nhất vì cửa mở liên tục và hàng mang rủi ro từ bên ngoài, nên cần một khu đệm để dỡ carton, kiểm pallet rồi mới chuyển vào kho chính. Trong kho, pallet kê cách tường 45 cm để soi được chân tường và bẫy không bị hàng che.
Lớp bên trong là đèn keo và bẫy dính để đếm. Đèn côn trùng đặt lùi vào trong, không nhìn thẳng ra cửa, cách cửa ít nhất 5 m và cách bề mặt tiếp xúc thực phẩm trên 3 m. Làm kín rồi vẫn cần xử lý ở vành ngoài, nhưng khối lượng bên trong giảm rõ; đó chính là mục tiêu.
Công ty không lắp đèn theo gói có sẵn số lượng. Khi nhà máy yêu cầu, kỹ thuật viên khảo sát lối côn trùng bay vào từng khu. Sau đó mới đề xuất số đèn theo diện tích, nhà máy đồng ý thì lắp. Đèn keo, bẫy dính và vành ngoài gom lại ở trang kiểm soát theo IPM cho xưởng thực phẩm.

Chuột cần cách chặn riêng theo ba vùng, xem nhà máy thực phẩm chặn chuột theo ba vùng; kiểm bao lâu một lần và hoá chất nào không dùng bên trong, xem tần suất kiểm và hoá chất cấm trong khu sản xuất. Cách chia ba vòng cho nhà xưởng có ở trang côn trùng trong nhà máy, kho: vành đai, cửa nhận hàng, rãnh.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn, từ kinh nghiệm thi công tại TP.HCM và các tỉnh lân cận từ năm 2020.
Duyệt chuyên môn: Lê Thành Nhân, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Khử Trùng Toàn Cầu.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- AIB International (bản chính thức do McCain lưu). The AIB International Consolidated Standards for Inspection: Prerequisite and Food Safety Programs, 2013. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Food Code 2022, Mục 4-501.114, 2022. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- FAO/WHO Codex Alimentarius. Recommended International Code of Practice — General Principles of Food Hygiene, CAC/RCP 1-1969, Rev. 3, 1997. Truy cập lần cuối 26/09/2026.
- Texas A&M AgriLife Extension (Đại học Texas A&M). Controlling Houseflies (ER-025), ER-025, 2006. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- UC Statewide IPM Program (Đại học California). Cockroaches — Pest Notes (Publication 7467), 7467, 2019. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- University of Arkansas Division of Agriculture (Cooperative Extension). Food Manufacturing, Processing and Storage Pest Control — Classification 7 Training Manual (AG1157), AG1157. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Đại học Nebraska–Lincoln, Internet Center for Wildlife Damage Management (bản lưu của Sở Y tế hạt Allegheny, Hoa Kỳ). Rodent-Proof Construction and Exclusion Methods (Prevention and Control of Wildlife Damage, chương B-137), B-137, 1994. Truy cập lần cuối 24/09/2026.

















