Ruồi nhà: con ruồi xám bốn sọc trên bàn ăn, đẻ trong rác, 7–10 ngày một đời
Ruồi nhà Musca domestica dài 6–8 mm, xám tro, lưng có bốn sọc đen, bay nhanh và đậu chớp nhoáng trên bàn ăn. Ruồi cái đẻ 5–6 đợt, mỗi đợt 75–150 trứng vào rác ướt, phân, thức ăn thừa; 7–10 ngày là một đời. Nó nôn dịch tiêu hoá lên thức ăn để hút, nên truyền tả, lỵ, thương hàn.
Con ruồi xám đậu lên miếng bánh, xua đi rồi lại đậu, là ruồi nhà. Nó vừa từ thùng rác hoặc bãi phân chó ngoài sân bay vào, và mỗi lần đậu là một lần nôn dịch tiêu hoá lên thức ăn.
Ở quán ăn và chợ, đây là loài ruồi đội kỹ thuật Khử Trùng Toàn Cầu gặp nhiều nhất, và ca nào chủ quán cũng chỉ vào con ruồi trên bàn thay vì vào thùng rác sau bếp. Ổ nằm ở thùng rác, không nằm trên bàn.
Nhận ra ruồi nhà bằng gì?
Cỡ bằng hạt gạo, 6–8 mm, xám tro, lưng ngực có bốn sọc đen chạy dọc, bụng vàng nhạt ở con đực. Mắt đỏ nâu to, con đực hai mắt gần chạm nhau. Bay nhanh, đổi hướng gấp, đậu chớp nhoáng rồi bay. Chân có đệm dính nên đi được trên kính và trần.
| Xem ở | Ruồi nhà | Ruồi nhặng xanh | Ruồi giấm |
|---|---|---|---|
| Cỡ | 6–8 mm | 8–12 mm | 3–4 mm |
| Màu | Xám, 4 sọc đen trên lưng | Xanh lục hoặc lam ánh kim | Vàng nâu, mắt đỏ |
| Tiếng bay | Vo ve nhỏ | Vo ve to, trầm | Gần như không |
| Đậu ở | Bàn ăn, thức ăn, thùng rác | Cửa kính, thịt cá, xác chết | Trái cây, quầy bar |
| Đẻ ở | Rác ướt, phân, thức ăn thừa | Xác chết, thịt hỏng | Chất lên men |

Ruồi nhà không có con non bay: từ nhộng nở ra đã đủ 6–8 mm. Ruồi "nhỏ" trong bếp là loài khác, ruồi giấm hoặc ruồi cống, và ổ ở chỗ khác.
Ruồi nhà đẻ ở đâu quanh nhà và quán?
Ở chất hữu cơ ướt đang phân huỷ: thùng rác không nắp, bao rác để qua đêm, phân chó mèo ngoài sân, thức ăn thừa dưới gầm bếp, bã thức ăn trong bẫy mỡ, chuồng gia súc gần nhà. Ruồi bay 1–2 km tìm chỗ đẻ, nên bãi rác cuối hẻm là ổ chung của cả xóm.
- Thùng rác bếp, khu tập kết rác sau quán: ổ số một; rác ướt để lâu là có trứng.
- Phân chó mèo, chuồng gà, chuồng heo gần nhà: nguồn lớn ở vùng ven.
- Bẫy mỡ, rãnh thoát nước bếp: bã thức ăn lắng; dòi ruồi nhà sống được trong bùn bẫy mỡ.
- Thức ăn thừa dưới gầm bếp, sau tủ: ổ nhỏ trong nhà, ít ai ngờ.

Dấu ổ: dòi trắng 7–10 mm bò dưới đáy thùng, nhộng nâu đỏ như hạt gạo lứt ở mép sàn quanh thùng. Thấy nhộng là ổ đã nở ít nhất một lứa. Mùa mưa ruồi vào nhà nhiều hơn vì rác ẩm lâu, đọc vì sao mùa mưa ruồi bay vào nhà nhiều.
Ruồi nhà đẻ bao nhiêu và vòng đời bao lâu?
Ruồi cái đẻ 5–6 đợt, mỗi đợt 75–150 trứng, xếp thành cụm trắng trong rác ướt. Trứng nở sau 8–24 giờ, dòi lột xác 2 lần trong 4–7 ngày, nhộng 3–5 ngày. Ở 28–35 °C tổng 7–10 ngày. Ruồi sống 2–4 tuần. Một thùng rác để qua tuần đủ cho 1.000–2.000 ruồi mới.
| Mốc | Ruồi nhà |
|---|---|
| Trứng mỗi đợt | 75–150, thành cụm |
| Đợt trong đời | 5–6 |
| Trứng nở | 8–24 giờ |
| Dòi | 4–7 ngày, 2 lần lột xác, dài 7–10 mm |
| Nhộng | 3–5 ngày, nâu đỏ, ở mép khô cạnh ổ |
| Trứng tới ruồi bay | 7–10 ngày |
| Bay xa | 1–2 km tìm ổ đẻ |
Nhộng nằm ở mép khô quanh thùng rác, không trong rác, nên đổ rác đi vẫn có ruồi nở 3–5 ngày sau. Phải rửa cả sàn quanh thùng và đáy thùng, chỗ nhộng nằm. Vòng đời quyết định cách xử lý ra sao, đọc vòng đời ruồi quyết định cách xử lý ra sao.
Ruồi nhà truyền bệnh gì và bằng cách nào?
Ruồi nhà không nhai được. Gặp thức ăn rắn, nó nôn dịch tiêu hoá lên để hoà tan rồi hút lại, và thải phân tại chỗ. Trước đó nó vừa đậu lên rác, phân, xác chết. Vi khuẩn tả, thương hàn, lỵ, E. coli, trứng giun sán đi theo ba đường: dịch nôn, phân và lông chân.
- Tiêu chảy, ngộ độc thức ăn: thức ăn để hở ở quán mùa nóng; ca nhiều nhất trong các bệnh do ruồi.
- Thương hàn, tả, lỵ: vùng có nhà vệ sinh hở, chuồng trại gần bếp.
- Mắt hột, giun sán: ruồi đậu mắt và miệng trẻ nhỏ.
- Hồ sơ cơ sở: ruồi trong khu chế biến là lỗi ghi biên bản; đèn bắt ruồi trong bếp phải là loại keo dính, loại giật điện làm xác ruồi bắn vào thức ăn.
Với khách sạn có buffet, ruồi nhà ở khu buffet là chuyện phải xử lý trong ngày; đọc kiểm soát ruồi trong khách sạn: buffet và rác.
Xử lý ruồi nhà vì sao bắt đầu từ thùng rác?
Vì ổ ở đó và vì 7–10 ngày một lứa. Kỹ thuật viên xem thùng rác, khu tập kết rác, bẫy mỡ và sàn quanh thùng trước, chỉ cho chủ quán dòi và nhộng, rồi mới nói tới đèn. Rác kín và ra khỏi quán mỗi ngày là việc đầu tiên.
Rác ướt bọc kín và ra khỏi quán cuối ca, đáy thùng và sàn quanh thùng được rửa, bẫy mỡ được nạo. Cửa nhận hàng có rèm nhựa hoặc quạt chắn gió, cách chọn ở chặn ruồi ở cửa ra vào: rèm, lưới, quạt. Ngoài khu rác thì phun sương cho ruồi đang bay, phun tồn lưu tường nơi ruồi đậu và đặt bả ruồi; trong bếp dùng đèn UV keo dính đặt xa cửa, xa bàn chế biến.
Mỗi lượt kiểm theo lịch, số ruồi trên tấm keo đèn được so với lần trước để biết ổ đã dọn đúng chưa.

Chợ, xưởng thực phẩm xem cách xử lý ruồi cho nhà máy, kho. Con ruồi xanh to vo ve ở cửa kính là ruồi nhặng xanh, đám ruồi nhỏ quanh trái cây là ruồi giấm; bảng so bốn loài ở trang loài ruồi.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- Perennia (cơ quan phát triển nông nghiệp tỉnh Nova Scotia, Canada). The Biology and Lifecycles of Common Flies on Livestock Operations, 2013. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC). About Culex Mosquitoes. Truy cập lần cuối 26/09/2026.
- UNH Cooperative Extension (Đại học New Hampshire). House Fly Fact Sheet. Truy cập lần cuối 24/09/2026.

















