Đặt bẫy giám sát gián ở vị trí nào trong bếp?
Bếp cỡ vừa cần tám vị trí cơ bản: gầm tủ lạnh, chân bếp nấu, dưới bồn rửa, sau kệ inox, khu nhận hàng, khu rác, tủ dụng cụ và gầm quầy ra món. Bếp khoảng 100 m² dùng 10–15 bẫy, bẫy nào cũng sát chân tường, chỗ tối, đánh số trên sơ đồ.

Bẫy giám sát trong bếp đặt theo nguyên tắc nào?
Gián đi men mép và tránh khoảng trống sáng, nên bẫy phải thoả ba điều kiện: sát chân tường hoặc trong góc, ở chỗ tối, và không bị xê dịch khi làm việc. Gián chui được khe hẹp 0,8–4,8 mm, nên miệng bẫy đặt ngay lối ra của khe chứ không đặt cách khe một gang tay.
Bẫy đúng nguyên tắc mà nằm ở chỗ không có đường đi thì vẫn trống. Vì vậy đợt đặt đầu tiên nên đi sau một lần soi đèn pin ban đêm, khi bếp đã tắt đèn khoảng 1 giờ, để thấy gián thật sự đi qua đâu. Chỗ có phân đen li ti và xác lột là chỗ nên đặt.

Tám vị trí cơ bản là những chỗ nào?
Tám vị trí dưới đây phủ đủ bốn loại chỗ gián cần: chỗ trú, chỗ nước, chỗ ăn và chỗ vào. Thiếu một nhóm là mù một hướng. Cột cuối cho biết khi bẫy ở chỗ đó bắt được gián thì nên hiểu là gì, để người đọc bẫy biết phải báo ai.
| Vị trí | Vì sao đặt ở đây | Bắt được ở đây nghĩa là |
|---|---|---|
| Gầm tủ lạnh, bàn lạnh, tủ đông | Khoang mô-tơ ấm quanh năm | Ổ chính nằm trong thiết bị lạnh |
| Chân bếp nấu, sau bếp chiên | Nhiệt và dầu mỡ đọng | Ổ ở khe dưới thân bếp |
| Dưới bồn rửa, quanh ống thoát | Nguồn nước hằng ngày | Gián đi uống từ các ổ quanh đó |
| Sau kệ inox áp tường | Khe tối, đường nối giữa các khu | Đường đi chính của đàn |
| Khu nhận hàng | Thùng carton mang gián vào | Gián mới theo hàng |
| Khu rác, cửa sau | Gián Mỹ từ cống bò vào | Nguồn từ ngoài, cần chặn cống |
| Tủ dụng cụ, ngăn kéo | Ít khi dọn tới | Ổ phụ đã hình thành |
| Gầm quầy ra món | Xa ổ nhất | Mật độ đã cao, báo ngay |

Bếp cỡ nào thì cần bao nhiêu bẫy?
Bếp khoảng 100 m² dùng 10–15 bẫy là vừa: tám vị trí cơ bản, cộng thêm bẫy ở những điểm nóng riêng của bếp đó. Bếp nhà hàng thường có 20–60 ổ gián Đức, phần lớn quanh thiết bị lạnh và bếp nóng, nên điểm nóng nào cũng nên có một bẫy đánh số.
Thà nhiều bẫy mà đọc đều còn hơn ít bẫy mà đọc thất thường. Tiền bẫy nhỏ so với một đợt xử lý phải làm lại vì không biết ổ nằm đâu. Bẫy đặt ngay sau lượt xử lý còn là thước đo kết quả: mốc ngày 7–14, dưới 3 con mỗi bẫy qua đêm là đạt theo cách đội kỹ thuật ở trang diệt gián bếp quán bằng gel và tồn lưu.
Mỗi loại quán cần thêm bẫy ở đâu?
Tám vị trí trên là phần chung. Mỗi loại quán có thêm vài chỗ riêng, bỏ qua thì bỏ sót đúng chỗ hay có vấn đề nhất. Danh sách dưới đây ghi theo loại hình, cộng thêm vào sơ đồ chung chứ không thay cho nó; mỗi chỗ thêm cũng đánh số như bẫy khác.
- Quán nướng, lẩu: quanh khu chứa than củi và giá xếp nồi.
- Quán cà phê, tiệm bánh: quanh máy pha, khay hứng nước và kho bột.
- Bếp có quầy bar: sau tủ mát chai, quanh khay đá và rãnh thoát của bar.
- Bếp trung tâm giao hàng: khu đóng gói và kho hộp giấy.
- Quán trong trung tâm thương mại: quanh hộp gen kỹ thuật chung với gian bên cạnh.
Chỗ trú theo từng thiết bị trong bếp nhà hàng, xem gián trong bếp nhà hàng: bàn lạnh, khe inox, hàng nhập.
Chỗ nào không nên đặt bẫy?
Có năm chỗ đặt bẫy gần như chắc chắn cho số sai, hoặc số không giả. Hay gặp nhất là đặt thẳng xuống sàn ướt: bẫy ngấm nước mất dính trong 1–2 ngày. Sàn bếp lúc nào cũng ướt thì kê bẫy lên thanh giằng chân kệ hay miếng đệm nhựa mỏng áp sát tường.
- Giữa sàn trống hay giữa mặt kệ: gián không đi qua.
- Sát khu rửa có hơi nước, hay dưới quạt và miệng gió điều hoà: bụi và hơi nước phủ mặt dính.
- Trên mặt tiếp xúc thực phẩm: không bao giờ.
- Chỗ khách nhìn thấy ở khu ra món: đặt dưới gầm quầy, sau chân kệ.
- Chỗ bị dời mỗi ca khi lau dọn: mất tính so sánh giữa các tuần.
Bẫy đặt rồi mà không bắt được con nào thì đọc thế nào, xem bẫy dính gián không bắt được con nào có nghĩa là gì.
Đánh số và vẽ sơ đồ bẫy thế nào?
Bẫy không đánh số thì sau 3 tuần không ai nhớ bẫy nào ở đâu, và chuỗi số mất giá trị so sánh. Sơ đồ vẽ tay trên một tờ giấy là đủ; nó dùng cho mọi lượt sau, dùng để bàn giao ca, và là thứ đoàn kiểm tra muốn thấy. Làm năm bước dưới đây ngay hôm đặt.
- Vẽ mặt bằng bếp và kho, đánh dấu thiết bị lớn và cửa.
- Viết số lên lưng từng bẫy bằng bút dầu, ghi đúng số đó lên sơ đồ.
- Dán sơ đồ ở văn phòng bếp, kẹp một bản vào tập hồ sơ.
- Đọc bẫy mỗi tuần vào cùng một ngày, ghi số con theo từng bẫy, không ghi tổng.
- Ghi ngày thay bẫy để biết chuỗi số nào so được với nhau.
Quán có gói kiểm soát định kỳ thì kỹ thuật viên của công ty đọc bẫy theo đúng số trên sơ đồ ở mỗi lượt hằng tháng, giờ làm hẹn theo lịch quán. Bẫy nào dính nhiều, khu đó được chấm gel, rắc bột vào khe kín như chân bàn rỗng và phun tồn lưu khe chân tường quanh bẫy.

Khi nào dời bẫy hay vẽ lại sơ đồ?
Sau 4 tuần, bẫy nào liên tục bằng không mà khu đó cũng không có dấu vết thì dời sang chỗ khác; bẫy nào bắt nhiều thì giữ nguyên và thêm bẫy quanh đó để khoanh vùng ổ. Vẽ lại sơ đồ khi bếp đổi bố trí thiết bị hay cải tạo, vì đường gián đi cũng đổi.
Ngoài các dịp đó, giữ sơ đồ càng lâu càng tốt: giá trị của giám sát nằm ở chuỗi số dài, đổi sơ đồ là cắt chuỗi đó. Sơ đồ và sổ đếm bẫy là hai trong những giấy tờ quán nên giữ, xem giấy tờ nhà hàng giữ khi thuê xử lý gián Đức; bếp muốn có người đọc bẫy theo lịch thì xem lượt kiểm gián hằng tháng cho quán ăn.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn, từ kinh nghiệm thi công tại TP.HCM và các tỉnh lân cận từ năm 2020.
Duyệt chuyên môn: Lê Thành Nhân, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Khử Trùng Toàn Cầu.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- Texas A&M AgriLife Extension. Cockroach Biology and Management (ENTO-037), ENTO-037, 2017. Truy cập lần cuối 24/09/2026.

















