Sau khi phun, hiệu lực kéo dài bao lâu?
Trên vách khô trong nhà, không bị lau, lớp phun tồn lưu giữ hiệu lực khoảng 3–6 tháng, mức WHO kỳ vọng với deltamethrin. Tường vôi, gỗ mộc, bề mặt ngoài trời và chỗ hay lau giữ ngắn hơn nhiều. Phun không gian hết tác dụng trong ngày. Hết mùi sau 1–2 ngày không có nghĩa là hết thuốc.

Phun tồn lưu giữ hiệu lực bao lâu trên từng loại bề mặt?
Trên vách khô trong nhà, không bị lau, thuốc bám 3–6 tháng: mức WHO kỳ vọng với deltamethrin; đo thực tế bê tông giữ khoảng 6,5 tháng, gỗ khoảng 3,8 tháng. Vật liệu không hút nước giữ lớp thuốc trên mặt, vật liệu hút nước kéo thuốc vào sâu, nơi côn trùng không chạm tới.
| Bề mặt | Giữ hiệu lực | Vì sao |
|---|---|---|
| Gạch men, kính, nhựa, bê tông | Dài; bê tông đo được khoảng 6,5 tháng với deltamethrin | Không hút hoạt chất, lớp bám nguyên vẹn |
| Tường sơn còn tốt | Khá dài | Lớp sơn giữ hoạt chất trên bề mặt |
| Tường vôi, tường thấm | Ngắn hơn hẳn | Bề mặt hút hoạt chất vào trong |
| Gỗ mộc, ván ép chưa phủ | Ngắn hơn, gỗ đo được khoảng 3,8 tháng | Thớ gỗ hút và giữ hoạt chất bên dưới |
| Bề mặt ngoài trời | Ngắn nhất | Mưa, nắng và bụi làm mất lớp bám |
| Bề mặt lau thường xuyên | Gần như không còn | Lau là xoá lớp hoạt chất |
Với muỗi vằn trong nhà, nghiên cứu nhắm vùng từ sàn lên 1,5 m, nơi muỗi hay đậu nghỉ; đội kỹ thuật phun thành dải chân tường cao 1 m tính từ mặt nền. Dạng chế phẩm cũng ảnh hưởng: tường vôi cần dạng huyền phù, xem thêm ở bài các nhóm hoạt chất và dạng chế phẩm.

Vì sao lau nhà lại làm mất hiệu lực?
Vì lớp tồn lưu là một lớp rất mỏng nằm trên bề mặt, không thấm sâu vào vật liệu. Nước lau nhà và khăn ẩm cuốn lớp đó đi giống như cuốn một lớp bụi, bề mặt trở lại như trước khi phun. Chỗ bị lau kỹ nhất thường lại là chỗ côn trùng hay bò qua nhất.
Kỹ thuật viên hay dặn không lau chân tường, gầm tủ và bề mặt khuất trong những tuần đầu. Sàn giữa phòng vẫn lau bình thường sau khi khô, chỉ tránh dải sát chân tường khoảng 20 cm, cỡ một gang tay.
Những việc nào làm mất lớp tồn lưu sớm?
Những việc cọ, rửa hoặc phủ lên bề mặt đã phun. Nhiều nhà thấy côn trùng quay lại sau 2 tuần và nghĩ thuốc kém, trong khi lớp thuốc đã bị lau hoặc bị sơn đè lên. Sáu việc dưới đây rút ngắn thời gian giữ hiệu lực đáng kể, nên hoãn lại ít nhất tới lượt kiểm sau.
- Lau chân tường và gầm thiết bị bằng khăn ướt.
- Xịt nước tẩy rửa lên khu vực vừa được phun.
- Kê lại đồ đạc, cọ xát vào bề mặt đã xử lý.
- Để mưa hắt vào bề mặt ngoài trời đã phun.
- Sơn hoặc dán giấy lên tường sau khi phun.
- Chạy máy chà sàn ở khu vực đã xử lý.
Hết mùi thuốc có phải là hết hiệu lực?
Không. Mùi bay hết sau 1–2 ngày, còn lớp hoạt chất vẫn nằm trên bề mặt nhiều tuần. Rất nhiều người gọi lại sau 3 ngày vì không còn ngửi thấy gì và nghĩ thuốc đã hết. Mùi đến từ dung môi và chất phụ gia, hai thứ này bay hơi nhanh hơn hoạt chất nhiều.
Ngược lại, mùi gắt kéo dài quá 3 ngày lại là dấu hiệu nên báo đơn vị thi công, vì có thể liều lượng hoặc cách phun chưa đúng. Thông gió tốt trong ngày đầu, sau đó mùi còn lại là bất thường.

Vì sao vẫn cần lượt thứ hai dù lượt đầu đã thấy giảm?
Vì lớp tồn lưu diệt con bò qua, không chạm tới trứng đã đẻ. Trứng rệp giường nở sau khoảng 1–2 tuần, lăng quăng thành muỗi trong 7–10 ngày, nên lứa non nở ra ở cả chỗ thuốc không phủ tới hay đã bị lau. Lượt sau chặn lứa nở muộn; với rệp là lượt bổ sung trong 14 ngày.
Sau hai lượt đầu, lượt định kỳ đi 1 lần mỗi tháng, riêng chuột kiểm trạm mỗi tuần. Nhà ở đã bịt lối vào và giữ khô thì mỗi lượt nhẹ hơn, nhưng côn trùng từ nhà bên vẫn quay lại sau tháng kế tiếp. Cơ sở có bếp và khu rác càng cần giữ nhịp, vì nguồn nuôi ở đó không bao giờ cắt hết được, xem lượt phun nhắc lại mỗi tháng khi thuốc yếu dần. Bảo hành ở đây nghĩa là quay lại xử lý nếu mật độ tăng trong thời hạn, không phải cam kết không còn con nào.

Bả, bẫy và trạm mối giữ tác dụng bao lâu?
Mỗi thứ có thời hạn riêng, không theo lớp phun. Bả gel còn tác dụng chừng nào giọt còn mềm và chưa bám bụi, thường vài tuần trong khe kín. Tấm keo phụ thuộc vào bụi và độ ẩm nhiều hơn thời gian. Trạm nhử mối thì chỉ đặt cố định 7–14 ngày để gom mối thợ về.
Sau 14 ngày, kỹ thuật viên nghiệm thu trạm rồi phun thuốc truyền dẫn lên mối thợ để chúng mang về tổ, không để trạm nằm đó hàng tháng. Một phương án tốt ghi rõ hai mốc riêng: mốc phun lại và mốc kiểm bả, bẫy. Gộp chung một con số là cách nhanh nhất để một trong hai bị bỏ quên. Vì sao cùng một thuốc dùng mãi lại kém dần, xem dùng mãi một loại thuốc vì sao kém dần.
Tuỳ tình huống thực tế và quần thể mối nhiều hay ít, kỹ thuật viên linh động dùng thuốc phù hợp cho từng trường hợp.
Làm sao tự đo hiệu lực còn hay đã hết?
Đếm, đừng đoán. Đặt vài tấm keo ở vị trí cố định sau khi phun, ghi số con bắt được theo tuần và so với tuần đầu. Số đếm bắt đầu tăng lại là lớp tồn lưu đang yếu hoặc còn nguồn chưa xử lý. Năm bước dưới đây cho biết có cần lượt tiếp theo hay chưa.
- Ghi số con nhìn thấy mỗi ngày trong 2 tuần sau khi phun.
- Đặt 3–4 tấm keo ở các điểm cố định, đếm theo tuần.
- So số của tuần thứ tư với số của tuần đầu sau khi phun.
- Số tăng trở lại thì kiểm xem có bề mặt nào bị lau hoặc mưa hắt không.
- Không có bề mặt nào bị lau mà số vẫn tăng thì báo đơn vị thi công.

So độ bền giữa phun, bả, tinh dầu và biện pháp cơ học có ở bài hoá chất và cách tự nhiên, cái nào bền hơn. Mức giá theo mặt bằng xem bảng giá diệt côn trùng tổng hợp.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn, từ kinh nghiệm thi công tại TP.HCM và các tỉnh lân cận từ năm 2020.
Duyệt chuyên môn: Lê Thành Nhân, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Khử Trùng Toàn Cầu.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC). Life Cycle of Aedes Mosquitoes, 2024. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- PLOS Neglected Tropical Diseases, lưu trên PubMed Central. Efficacy of novel indoor residual spraying methods targeting pyrethroid-resistant Aedes aegypti within experimental houses, PMC6394901, 2019. Truy cập lần cuối 24/09/2026.
- Parasites & Vectors, lưu trên PubMed Central. Multi-country assessment of residual bio-efficacy of insecticides used for indoor residual spraying in malaria control on different surface types (PMI/USAID, 17 nước), PMC5791726, 2018. Truy cập lần cuối 24/09/2026.

















