Gián truyền bệnh gì và gây dị ứng thế nào?
Gián không truyền bệnh qua vết đốt như muỗi. Chúng mang vi khuẩn đường ruột như Salmonella, E. coli, Klebsiella trên chân và trong phân rồi để lại trên thức ăn, chén đũa. Phân, nước bọt, xác lột gián chứa đạm gây dị ứng: một nghiên cứu ở Mỹ thấy 36,8% trẻ bị hen dị ứng với gián.

Gián truyền bệnh cho người theo đường nào?
Theo đường cơ học: gián bò qua cống, rác, phân, dính vi khuẩn trên chân và lông cứng, nuốt vi khuẩn vào ruột, rồi bò lên thớt, chén, thức ăn để hở và thải phân tại đó. Mầm bệnh không cần nhân lên trong cơ thể gián như virus sốt xuất huyết trong muỗi. Gián chỉ là chiếc xe chở.
Vì vậy các nhà khoa học nói thận trọng. Nhóm tác giả ở Đại học Y Shiraz (Iran) viết rằng rất khó chứng minh gián trực tiếp làm lây bệnh cho người, nhưng không thể loại trừ vai trò của chúng khi gần như con nào cũng mang vi khuẩn gây bệnh. Rủi ro tăng theo độ gần: gián càng sống sát chỗ để thức ăn, càng nhiều cơ hội làm bẩn. Gián cắn người thì hiếm và không truyền bệnh qua vết cắn như muỗi, xem gián có cắn người không.

Gián mang những vi khuẩn và ký sinh trùng nào?
Danh sách khá dài. Tài liệu của WHO về côn trùng gây hại đô thị liệt kê vi khuẩn đường ruột, nấm mốc, trứng giun, đơn bào phân lập từ gián. Một bài tổng quan năm 2020 ước tính khoảng một phần tư vi sinh vật phân lập từ gián là mầm bệnh qua thực phẩm.
| Nhóm | Ví dụ đã phân lập từ gián | Bệnh có thể gặp nếu nhiễm |
|---|---|---|
| Vi khuẩn đường ruột | Salmonella, E. coli, Shigella, Campylobacter | Ngộ độc thực phẩm, tiêu chảy, lỵ, thương hàn |
| Vi khuẩn cơ hội | Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus, Listeria | Nhiễm khuẩn ở người yếu, người nằm viện |
| Trứng giun | Giun đũa, giun kim, giun tóc, giun móc | Nhiễm giun đường ruột, nhất là trẻ nhỏ |
| Đơn bào | Entamoeba histolytica, Giardia | Lỵ amip, tiêu chảy kéo dài |
| Nấm mốc | Aspergillus, Penicillium, Candida | Chủ yếu gây hại cho người suy giảm miễn dịch |
Số liệu thực địa cho thấy mức phổ biến. Nghiên cứu ở Iran được WHO dẫn lại cho biết khoảng 70% trong 80 con gián bắt ở bệnh viện, nhà ở và chuồng gà mang Salmonella, nhiều chủng kháng kháng sinh. Bài tổng quan năm 2020 của Donkor (Đại học Ghana) còn nhắc tới Salmonella Typhi, vi khuẩn gây thương hàn, trong danh sách mầm bệnh từng thấy trên gián.

Thức ăn gián đã bò qua nên giữ hay bỏ, rửa bàn theo thứ tự nào, có bài riêng: gián bò qua mặt bàn, thực phẩm còn dùng được không. Lỡ nuốt phải gián thì xem gián có ăn được không, lỡ nuốt phải thì sao.
Gián Đức hay gián Mỹ nguy hiểm hơn với sức khoẻ?
Về vi khuẩn, hai loài ngang nhau. Nghiên cứu năm 2010 trên 126 gián Đức và 69 gián Mỹ ở Tehran thấy 96,8% gián Mỹ và 93,6% gián Đức mang vi khuẩn có ý nghĩa y học, chênh lệch không có ý nghĩa thống kê. Nhóm này tách được ít nhất 25 loài vi khuẩn, hay gặp nhất là Klebsiella.
Khác nhau ở cách chúng tới gần người. Gián Mỹ dài khoảng 4 cm sống dưới cống, hố ga; WHO lưu ý chính việc gắn với cống, hố xí làm chúng dễ mang mầm bệnh từ phân người. Nhưng gián Mỹ chủ yếu bò lên ban đêm rồi về cống. Gián Đức thân 10–15 mm sống ngay trong tủ bếp, đẻ nhanh, số lượng gấp nhiều lần, để phân sát chén bát suốt ngày đêm.

Tính cả dị ứng thì gián Đức đáng lo hơn trong nhà ở, vì các chất gây dị ứng chính được đặt tên theo nó (Bla g 1, Bla g 2, viết tắt từ Blattella germanica) và nó ở trong nhà quanh năm. Cách nhận ra từng loài có ở trang gián Mỹ bò lên từ cống thoát sàn và trang loài gián chung.
Vì sao phân và xác gián gây dị ứng?
Vì trong đó có đạm lạ mà cơ thể một số người phản ứng. EPA ghi rằng đạm nằm trong phân và nước bọt của gián, cùng trứng và vỏ lột, có thể gây dị ứng hoặc kích phát cơn hen. Những mảnh này khô, vụn thành bụi, bám vào bụi nhà, bay lên khi quét hay kéo đồ.
Triệu chứng hay gặp là hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi, ngứa mắt, ho, nổi mẩn; người có hen thì khò khè, nặng ngực. Chỗ khó là dị nguyên không đi theo con gián. WHO dẫn nghiên cứu cho thấy dù số gián đã giảm và nhà được dọn kỹ, lượng dị nguyên gián có thể còn lại hơn 6 tháng. Diệt gián xong mà trẻ vẫn ho không có nghĩa là xử lý hỏng, mà là bụi cũ chưa hết.
WHO lưu ý chỉ một số ít gián cũng tạo ra lượng dị nguyên đáng kể, nhất là trong bếp kín, phòng ngủ sát bếp. Đó là lý do bác sĩ hỏi nhà có gián không khi khám trẻ hen. Nhận ra phân gián, tách khỏi phân chuột và thằn lằn, có ở bài phân gián, chuột và thằn lằn khác nhau thế nào.
Gián có gây hen ở trẻ nhỏ không?
Có. Gián làm hen nặng hơn và góp phần khởi phát hen ở trẻ cơ địa dị ứng. WHO ghi hen có gốc dị ứng ở 80% trẻ em bị hen. Ở Boston, trẻ có bố mẹ dị ứng sống trong nhà có dị nguyên gián từ 0,05 đơn vị mỗi gam bụi có nguy cơ hen gấp 8 lần.
Nghiên cứu nổi tiếng nhất đăng năm 1997 trên New England Journal of Medicine theo dõi 476 trẻ bị hen từ 4 đến 9 tuổi ở 8 khu đô thị Mỹ. Có 36,8% trẻ dị ứng gián, và 50,2% phòng ngủ của trẻ có dị nguyên gián ở mức cao. Trẻ vừa dị ứng vừa sống trong phòng nhiều dị nguyên phải nhập viện 0,37 lần mỗi năm, so với 0,11 lần ở các trẻ khác, và đi khám đột xuất vì hen 2,56 lần mỗi năm so với 1,43 lần.

Trẻ ho kéo dài, ho về đêm, khò khè khi chơi đùa hay mỗi lần dọn nhà thì nên đưa đi khám nhi hoặc hô hấp. Làm xét nghiệm dị ứng hay không là việc bác sĩ quyết định; cha mẹ chỉ cần kể rõ nhà có gián, có chó mèo, có ẩm mốc hay không.
Giảm vi khuẩn và dị nguyên gián trong nhà bằng cách nào?
Làm cả hai việc: bớt gián và bớt bụi gián. EPA khuyên giữ bàn, bồn rửa, sàn sạch, rửa chén và dọn vụn ngay, đựng thức ăn trong hộp kín, bịt khe quanh và trong tủ bếp. Nhà có trẻ hen nên lau ẩm thay vì quét khô, không xịt côn trùng trong phòng trẻ.
- Tối nào cũng rửa chén, lau mặt bếp, đổ rác có nắp; không để thức ăn qua đêm ngoài tủ.
- Đậy nắp phễu thoát sàn, bịt lỗ xuyên tường của ống nước, ống máy lạnh.
- Giặt nóng rèm, gối, thú bông của trẻ; lau ẩm gầm tủ bếp, sau tủ lạnh, chỗ nhiều xác gián.
- Để kỹ thuật viên xử lý ổ: chấm gel vào khe, rắc thuốc bột vào chân bàn rỗng, rải bả hạt chỗ khuất, phun tồn lưu dọc chân tường, khe nứt, cống.
- Kiểm lại theo lịch để số gián giữ ở mức thấp, vì dị nguyên chỉ giảm dần khi gián không còn tạo thêm.
Gián bò qua lớp thuốc tồn lưu chết từ từ và mang thuốc về ổ, nên số gián giảm dần qua vài tuần chứ không hết trong một đêm. Gel công ty dùng có trong danh mục Bộ Y tế cho phép, đặt trong khe kín, hợp với nhà có trẻ nhỏ. Một buổi xử lý có ở dịch vụ diệt gián bằng gel trong tủ bếp; nhà sát cống chung nên kiểm mỗi tháng một lần theo gói kiểm soát côn trùng định kỳ. Quán ăn cần xem thêm rủi ro của gián trong nhà hàng; nhận diện bốn loài gián có ở trang loài gián, các bài sâu hơn nằm ở nhánh chuyên sâu về gián.
Về bài viết này
Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp và biên soạn.
Cách làm ra bài: Đội kỹ thuật viên của Khử Trùng Toàn Cầu tổng hợp từ hồ sơ khảo sát và các buổi xử lý tại hiện trường; số liệu sinh học đối chiếu với tài liệu chuyên ngành.
Nguồn tham khảo
Thông tin và số liệu trên trang này đối chiếu với các tài liệu sau.
- Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA). Asthma Triggers: Gain Control — Cockroaches and Pests. Truy cập lần cuối 26/09/2026.
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Văn phòng khu vực châu Âu. Public health significance of urban pests (Bonnefoy X, Kampen H, Sweeney K), 2008. Truy cập lần cuối 26/09/2026.
- Annals of Tropical Medicine and Parasitology (lưu trên PubMed). Cockroaches (Periplaneta americana and Blattella germanica) as potential vectors of the pathogenic bacteria found in nosocomial infections (Fakoorziba MR và cộng sự), PMID 20863441, 2010. Truy cập lần cuối 26/09/2026.
- Environmental Health Insights (Donkor ES, Đại học Ghana), lưu trên PubMed Central. Cockroaches and Food-borne Pathogens, PMC7218330, 2020. Truy cập lần cuối 26/09/2026.
- New England Journal of Medicine (lưu trên PubMed). The role of cockroach allergy and exposure to cockroach allergen in causing morbidity among inner-city children with asthma (Rosenstreich DL và cộng sự), PMID 9134876, 1997. Truy cập lần cuối 26/09/2026.
- UF/IFAS (Đại học Florida). American Cockroach, Periplaneta americana — Featured Creatures (EENY-141/IN298), EENY-141/IN298, 2024. Truy cập lần cuối 24/09/2026.

















